QC 1
Thứ 7, ngày 11/04/2026 | Hotline: 0889.066.066

3 trụ cột, 2 mục tiêu, 1 khát vọng: Đưa Việt Nam thành nước thu nhập cao vào 2045

“Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là động lực phát triển mà còn là con đường tất yếu để Việt Nam đạt được khát vọng hùng cường,” Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Hoàng Minh nhấn mạnh.

Theo Thứ trưởng Bộ KH&CN Hoàng Minh, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, nhấn mạnh bộ ba KHCN, ĐMST và CĐS là các yếu tố quyết định để đưa Việt Nam vươn lên, thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển, đạt được các mục tiêu chiến lược quốc gia. Trên cơ sở đó, Thứ trưởng Hoàng Minh đã phân tích 3 trụ cột cốt lõi, 2 mục tiêu then chốt và 1 khát vọng lớn lao, những động lực trung tâm và đột phá cho sự phát triển nhanh, bền vững và tự cường của Việt Nam, hướng tới nước thu nhập cao vào 2045.

Thứ trưởng Bộ KH&CN Hoàng Minh

Ba trụ cột: Nền tảng đột phá phát triển quốc gia

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định ba trụ cột chiến lược gồm Khoa học công nghệ (KH&CN), Đổi mới sáng tạo (ĐMST) và Chuyển đổi số (CĐS) là động lực trung tâm, góp phần tạo đột phá trong phát triển kinh tế – xã hội.

Với Việt Nam, đây là lựa chọn chiến lược bắt buộc, là điều kiện tiên quyết để trở nên giàu mạnh và hùng cường trong kỷ nguyên mới. Trong đó, KH&CN là nền tảng tạo ra tri thức và công cụ mới, ĐMST là động lực chuyển hóa tri thức thành giải pháp kinh tế – xã hội, còn CĐS hiện thực hóa các giải pháp này thành sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới, phổ cập vào đời sống để đóng góp giá trị thực tế.

Trụ cột KH&CN là nền tảng của quốc gia. Một quốc gia muốn mạnh phải là quốc gia có KH&CN phát triển. Việt Nam đã đạt những thành tựu đáng kể trong công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng tái tạo và sản xuất vắc-xin… Song chi tiêu cho R&D hiện mới đạt 0,5% GDP, thấp hơn mức trung bình thế giới 2,4%. Nghị quyết 57 đặt mục tiêu đến năm 2030, chi R&D đạt 2% GDP, với trên 60% chi từ xã hội. Để đạt được mục tiêu này, Việt Nam cần hoàn thiện thể chế, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào R&D, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cấp hạ tầng nghiên cứu và tập trung vào các công nghệ chiến lược. KH&CN không chỉ tăng năng suất lao động mà còn thúc đẩy phát triển bền vững, như công nghệ xanh giảm carbon, hướng tới mục tiêu Net Zero 2050, và đóng góp tới 55% yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) cho tăng trưởng GDP hai con số trong thập kỷ tới.

Trụ cột ĐMST là động lực biến ý tưởng thành giá trị kinh tế, giúp Việt Nam vượt bẫy thu nhập trung bình. Lần đầu tiên, ĐMST được đặt ngang hàng với KH&CN trong luật pháp, nhấn mạnh tính ứng dụng thực tiễn và sự tham gia của toàn dân. Nếu KH&CN đóng góp 1% vào GDP, thì ĐMST chiếm tới 3%, phản ánh vai trò lan tỏa và thực tiễn rộng khắp. Hiện hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam sôi động với hơn 3.000 startup, giá trị đầu tư mạo hiểm đạt 1 tỷ USD, và nhiều sản phẩm thành công như VinFast hay phần mềm AI của FPT. Tuy nhiên, số lượng sáng chế còn thấp, tỷ lệ thương mại hóa chỉ 5–7%. Nghị quyết đặt mục tiêu tăng số đơn sáng chế 16 – 18%/năm, thương mại hóa đạt 8–10% và 40% doanh nghiệp tham gia hoạt động ĐMST vào năm 2030. Giải pháp bao gồm xây dựng hệ thống ĐMST quốc gia, kết nối đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp, phát triển trung tâm hỗ trợ ĐMST, quỹ đầu tư mạo hiểm, đồng thời thúc đẩy văn hóa sáng tạo và các khu công nghệ cao để thu hút đầu tư nước ngoài.

Trụ cột CĐS là quá trình tích hợp công nghệ số vào mọi lĩnh vực, xây dựng Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. CĐS tạo ra môi trường mới, xuất hiện sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới, nhưng đồng thời đòi hỏi thể chế thích ứng, vì đây là vấn đề thể chế 70%, công nghệ 30%. CĐS vừa là nền tảng để phổ cập nhanh ứng dụng KH&CN và ĐMST, vừa tạo dữ liệu và tài nguyên số, làm đầu vào cho nghiên cứu và đổi mới. Việt Nam xếp hạng 52/193 về chỉ số Chính phủ điện tử, 80% dịch vụ công đạt mức 4, kinh tế số chiếm 16% GDP. Mục tiêu 2030 là kinh tế số đạt 30% GDP, phủ sóng 5G toàn quốc và 80% giao dịch không tiền mặt. Các giải pháp trọng tâm bao gồm xây dựng hạ tầng số hiện đại, phổ cập kỹ năng số, đảm bảo an ninh mạng, triển khai đô thị thông minh và thu hút doanh nghiệp công nghệ hàng đầu.

Như vậy, ba trụ cột KH&CN – ĐMST – CĐS tạo thành hệ sinh thái liên kết chặt chẽ: nền tảng tri thức, động lực sáng tạo và môi trường số. Đây là bệ phóng chiến lược để Việt Nam bứt phá, trở thành quốc gia giàu mạnh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới.

Hai mục tiêu: Hướng tới phát triển nhanh và bền vững

Dựa trên tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Việt Nam xác định hai mục tiêu chiến lược then chốt: tăng trưởng GDP nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây là định hướng để Việt Nam thực hiện khát vọng trở thành nước phát triển có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và thu nhập cao vào năm 2045.

Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế truyền thống đã đến hạn, khó vượt mức 7%/năm, Việt Nam cần chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên KH&CN, ĐMST và CĐS. Ba trụ cột này không chỉ nâng cao năng suất và chất lượng, mà còn giúp quốc gia độc lập, tự cường, giảm phụ thuộc vào các cú sốc toàn cầu. Các nước đi sau như Việt Nam buộc phải “nhảy cóc” công nghệ, tiếp thu, cải tiến và ứng dụng sáng tạo phù hợp với điều kiện nội địa. Đổi mới sáng tạo cho phép tận dụng thành tựu nghiên cứu phát triển từ bên ngoài, kết hợp với cải tiến mô hình, nội địa hóa sản phẩm, lan tỏa rộng khắp xã hội và thể chế mà không nhất thiết phải đầu tư lớn vào cơ sở vật chất nghiên cứu. Đây là con đường khả thi và chiến lược để các nước đang phát triển rút ngắn khoảng cách với các nước tiên tiến.

Nếu Việt Nam tăng trưởng GDP 10%, thì KH&CN, ĐMST và CĐS phải đóng góp trên 5%. Trong đó, ĐMST chiếm 3%, CĐS 1–1,5% và KH&CN 1%, tức ĐMST đóng góp tới 60% tác động vào tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số không chỉ giúp vượt bẫy thu nhập trung bình mà còn hướng tới GDP bình quân đầu người khoảng 7.500 USD vào 2030 và trên 28.000 USD vào 2045. Nghị quyết 57-NQ/TW khẳng định KH&CN, ĐMST và CĐS sẽ nâng cao TFP (Năng suất nhân tố tổng hợp) trên 55%, thay thế dần mô hình dựa vào lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên.

Vai trò dẫn dắt và hỗ trợ, nhà nước chi 3% ngân sách cho KH&CN/ĐMST/CĐS phải kéo theo 2,5 – 3% GDP từ xã hội, tức một đồng chi công sẽ kích thích 3 – 4 đồng đầu tư của doanh nghiệp, trực tiếp đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Cơ chế chi từ “nhỏ giọt” chuyển sang khoán chi, để lại quyền thương mại hóa kết quả nghiên cứu cho cơ sở, giúp nhà nghiên cứu được hưởng lợi trực tiếp, khuyến khích sáng tạo và làm giàu chính đáng.

Thứ hai, mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia là yếu tố quyết định để Việt Nam hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu. KH&CN giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, như phát triển vật liệu mới hay công nghệ bán dẫn, tăng khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực. ĐMST thúc đẩy văn hóa sáng tạo, đặt mục tiêu 40% doanh nghiệp tham gia đổi mới vào năm 2030, tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao như phần mềm AI xuất khẩu. CĐS cải thiện quản trị doanh nghiệp và chính phủ, giúp 80% doanh nghiệp số hóa quy trình, giảm chi phí vận hành 15–20% và tăng tốc độ tiếp cận thị trường quốc tế. Sự kết hợp này nâng cao năng lực cạnh tranh từ quản trị quốc gia đến năng lực doanh nghiệp và tinh thần đổi mới sáng tạo của toàn dân.

Đổi mới quản trị quốc gia dựa trên dữ liệu thời gian thực, phân cấp, phân quyền linh hoạt, vận hành theo chức năng thay vì địa giới hành chính, và vai trò kiến tạo của nhà nước. KH&CN, ĐMST và CĐS cung cấp công cụ, ứng dụng, quy trình và mô hình để hiện thực hóa quản trị hiện đại. Đồng thời, làm chủ công nghệ chiến lược và công nghiệp chiến lược là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp Việt Nam tự chủ và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tinh thần ĐMST toàn dân được coi là chìa khóa phát triển năng lực quốc gia. KH&CN cung cấp tri thức, nhưng ĐMST mới tận dụng được thành tựu toàn cầu, đưa công nghệ vào thực tiễn Việt Nam, tạo giá trị kinh tế thực tế. Trong giai đoạn hiện nay, ưu tiên ĐMST sẽ giúp phát triển nhanh, tận dụng hiệu quả các nguồn lực hạn chế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Bên cạnh đó, tiêu chuẩn hóa và sở hữu trí tuệ là công cụ chiến lược. Tiêu chuẩn định hướng quốc gia, dẫn đường doanh nghiệp và thúc đẩy phát triển KH&CN, ĐMST, CĐS. Sở hữu trí tuệ biến kết quả nghiên cứu thành tài sản, tạo động lực thương mại hóa, thu hút đầu tư và xây dựng thị trường nghiên cứu phát triển bền vững. Đây là nền tảng để Việt Nam trở thành quốc gia đổi mới sáng tạo, hội nhập sâu và dẫn dắt công nghệ trong tương lai.

Một khát vọng: Việt Nam thành nước phát triển có thu nhập cao

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã chuyển mình từ một quốc gia nghèo trở thành nước thu nhập trung bình cao, với GDP bình quân đầu người tăng gấp 50 lần, từ dưới 100 USD năm 1986 lên 5.000 USD hiện nay. Bước sang năm 2025, Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình, hướng tới phát triển nhanh, bền vững dựa trên KH&CN, ĐMST và CĐS, với mục tiêu trở thành nước có thu nhập cao.

Lịch sử phát triển cho thấy, nông nghiệp giúp Việt Nam vượt qua mức 1.000 USD/người, trong khi công nghiệp gia công, lắp ráp đưa đất nước đạt 5.000 USD/người. Tuy nhiên, để hướng tới mức thu nhập 14.000–15.000 USD/người, KH&CN, ĐMST và CĐS sẽ trở thành động lực đột phá, giải quyết các bài toán lớn của quốc gia và nâng tầm năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, đồng thời tạo ra các sản phẩm công nghệ số “Make in Vietnam”. Việt Nam không chỉ là thị trường để sinh ra các doanh nghiệp công nghệ nội địa mà còn là bệ phóng để các doanh nghiệp này vươn ra toàn cầu, giải quyết các vấn đề toàn cầu bằng công nghệ Việt.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, trong 35 năm qua, từ năm 1990, có 34 quốc gia từ thu nhập trung bình trở thành thu nhập cao, nhưng chỉ 10 – 12 quốc gia thực sự phát triển, điển hình là Hàn Quốc, Israel hay Ba Lan. Những nước này đạt được thành công nhờ KH&CN, ĐMST và CĐS, có công nghiệp hóa cao, năng suất lao động tốt, thể chế ổn định, hạ tầng hiện đại và hệ thống giáo dục, y tế phát triển. Việt Nam hướng tới mục tiêu kép: thu nhập cao và phát triển bền vững, trong đó đóng góp từ KH&CN, ĐMST và CĐS vào tăng trưởng GDP phải trên 50%.

Nhà nước sẽ chuyển trọng tâm phát triển công nghệ về doanh nghiệp, trao quyền và khuyến khích mạnh mẽ đầu tư cho nghiên cứu phát triển (R&D), không chỉ bằng nguồn lực riêng mà còn bằng hỗ trợ ngân sách. Nếu trước đây ngân sách nhà nước chỉ tài trợ dưới 10% chi phí R&D của doanh nghiệp, thời gian tới tỷ lệ này có thể đạt 70 – 80%. Doanh nghiệp được hạch toán chi phí R&D như chi phí sản xuất kinh doanh, không giới hạn mức tối đa, được khấu trừ thuế với hệ số ưu đãi 150 – 200% nếu đầu tư vào công nghệ chiến lược, đồng thời lập quỹ đầu tư cho KH&CN và khởi nghiệp sáng tạo, tạo đòn bẩy phát triển các mô hình kinh doanh đột phá.

Lần đầu tiên, Việt Nam xác lập định hướng rõ ràng chuyển từ quốc gia sử dụng công nghệ lõi sang làm chủ công nghệ chiến lược. Ngân sách nhà nước sẽ tập trung 40 –50% cho các nhiệm vụ làm chủ công nghệ chiến lược, triển khai bởi các doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu uy tín. Hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm, hạ tầng kỹ thuật hiện đại cũng sẽ được đầu tư, phục vụ phát triển các công nghệ chiến lược then chốt, góp phần nâng cao năng lực tự chủ và tăng trưởng kinh tế.

Không chỉ dựa vào nội lực quốc gia, Việt Nam còn hướng tới huy động tri thức toàn cầu. Các nhà khoa học, chuyên gia công nghệ quốc tế sẽ được mời tham gia giải các bài toán lớn của Việt Nam, từ đó đưa KH&CN và ĐMST của đất nước phát triển, đồng thời nâng cao vị thế quốc gia. Bên cạnh đó, việc tăng cường hợp tác quốc tế với các tập đoàn công nghệ lớn (Big Tech) sẽ giúp Việt Nam trở thành trung tâm nhân lực toàn cầu về chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, tạo nền tảng vững chắc cho giấc mơ trở thành nước thu nhập cao, hiện đại và phát triển bền vững.

Theo Quốc Bảo /Vietnam Finance

Nguồn: https://vietnamfinance.vn/3-tru-cot-2-muc-tieu-1-khat-vong-dua-viet-nam-thanh-nuoc-thu-nhap-cao-vao-2045-d131842.html