Theo ông Lưu Minh Sang, cần có hướng dẫn chi tiết về các biện pháp vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội trong quá trình thu giữ TSBĐ để hạn chế việc lợi dụng sự mơ hồ trong khái niệm đạo đức nhằm biện minh hoặc phủ nhận các hành vi vi phạm.
Tác động từ luật hóa quyền thu giữ tài sản đảm bảo
Tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng đã trình bày Tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD).
Một nội dung nổi bật trong dự thảo lần này là đề xuất cho phép tổ chức tín dụng, cũng như các tổ chức mua bán và xử lý nợ, được quyền thu giữ tài sản bảo đảm (TSBĐ) – cơ chế từng được quy định tại Nghị quyết 42/2017/QH14 và mang lại nhiều hiệu quả trong thực tiễn.
Trong bối cảnh tỷ lệ nợ xấu gia tăng và trở thành điểm nghẽn lớn đối với hoạt động tín dụng, việc khôi phục cơ chế pháp lý này được kỳ vọng sẽ góp phần khai thông dòng vốn, thúc đẩy khả năng luân chuyển nguồn lực trong nền kinh tế. Đồng thời, quy định cũng hướng tới việc thiết lập sự cân bằng về quyền và nghĩa vụ giữa bên cho vay và bên vay, hạn chế tình trạng bất đối xứng đang hiện hữu. Theo giới chuyên gia, nhiều khả năng Quốc hội sẽ thông qua đề xuất trên trong kỳ họp này.

Chia sẻ với Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance, ông Lưu Minh Sang, Giảng viên Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. HCM cho rằng: “Việc ghi nhận quyền thu giữ TSBĐ trong Dự thảo Luật các TCTD (sửa đổi) có ý nghĩa và tác động tích cực đối với nhiều bên liên quan”.
Cụ thể, ông Sang cho rằng, quy định cho phép thu giữ tài sản bảo đảm nếu được luật hóa sẽ tạo ra một nền tảng pháp lý rõ ràng và đủ mạnh, giúp các tổ chức tín dụng chủ động hơn trong việc xử lý tài sản khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Điều này không chỉ rút ngắn thời gian và giảm chi phí xử lý nợ xấu, mà còn hạn chế các tranh chấp pháp lý kéo dài – một thực trạng phổ biến trong quá trình thu hồi nợ thời gian qua.
Về phía người vay, việc xác lập rõ ràng quyền thu giữ tài sản sẽ tạo ra sức ép tuân thủ nghĩa vụ tín dụng, đồng thời nâng cao ý thức trả nợ đúng hạn.
Bên cạnh đó, việc luật hóa quyền thu giữ TSBĐ cũng tăng cường tính an toàn và hiệu quả của hoạt động tín dụng, đặc biệt là hoạt động cho vay có bảo đảm. Các TCTD sẽ có thêm động lực để mở rộng tín dụng vì giảm được rủi ro thu hồi nợ, từ đó góp phần thúc đẩy dòng vốn lưu chuyển trong nền kinh tế. Ngoài ra, nếu quyền thu giữ TSBĐ được các TCTD thực hiện hiệu quả thì sẽ giúp giảm tải áp lực cho hệ thống tòa án cũng như cơ quan thi hành án, ông Sang nói.
Trước đó, nhiều ngân hàng cũng đã lên tiếng cho rằng việc cấp quyền thu hồi TSBĐ sẽ giúp đẩy nhanh tốc độ và giảm chi phí xử lý tài sản bảo đảm, xử lý nợ xấu, từ đó các ngân hàng có thêm dư địa giảm chi phí các khoản cấp tín dụng, hạ lãi suất, tăng cường khả năng quay vòng vốn và tiếp cận tín dụng của người dân và doanh nghiệp.
Làm sao để hợp tình, hợp lý?
Tuy nhiên, dù được kỳ vọng sẽ tháo gỡ nhiều điểm nghẽn trong xử lý nợ xấu, dự thảo sửa đổi Luật các TCTD vẫn đặt ra không ít băn khoăn, đặc biệt là về khả năng triển khai nhất quán và hiệu quả sau khi được thông qua.
Một ví dụ điển hình là quy định trong dự thảo nêu rõ: trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm, tổ chức tín dụng và các bên liên quan không được thực hiện các hành vi vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội. Tuy nhiên, điều gây tranh cãi là khái niệm “trái đạo đức xã hội” hiện vẫn chưa có định nghĩa pháp lý cụ thể. Việc thiếu chuẩn mực rõ ràng khiến cho quá trình xác định một hành vi có vi phạm chuẩn mực đạo đức hay không trở nên mơ hồ và dễ dẫn đến cách hiểu, cách áp dụng khác nhau giữa các bên liên quan.
Liên quan đến vấn đề này, ông Lưu Minh Sang cho rằng việc đưa quy định cấm áp dụng các biện pháp vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội trong quá trình thu giữ TSBĐ vào Luật các TCTD (sửa đổi) là phù hợp.
Tuy nhiên, việc xác định một hành vi là “trái đạo đức xã hội” tại Việt Nam thường dựa vào cách hiểu chung theo quy định tại Điều 123 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, hành vi trái đạo đức xã hội được hiểu là những hành vi vi phạm những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.
Song, trên thực tế, việc xác định rõ ràng và thống nhất rằng một hành vi cụ thể nào đó có vi phạm đạo đức xã hội hay không vẫn phụ thuộc rất nhiều vào sự đánh giá chủ quan của cơ quan có thẩm quyền, đặc biệt là vai trò của Tòa án trong từng vụ việc cụ thể. Bởi lẽ đây vẫn là khái niệm có tính định tính, phụ thuộc vào hoàn cảnh xã hội, vùng miền, thời điểm lịch sử,…ông Sang thừa nhận.

Ông Sang cho biết, tại Mỹ, đặc biệt trong quy trình thu giữ TSBĐ, pháp luật đặt ra yêu cầu rằng các tổ chức tín dụng và các đơn vị thu hồi TSBĐ phải tiến hành một cách “hòa bình” (peaceful repossession). Điều này đồng nghĩa với việc không được gây mất ổn định trật tự, không phá vỡ hòa bình (“breach of the peace”). “Breach of the peace” được hiểu là bất kỳ hành vi nào gây rối loạn, sử dụng bạo lực, đe dọa bạo lực hoặc xâm phạm tài sản một cách bất hợp pháp, chẳng hạn như hành vi phá khóa, xâm nhập trái phép vào khu vực khóa kín…
Nếu có tranh cãi hoặc sự phản đối từ con nợ trong quá trình thu hồi, việc tiếp tục thu hồi có thể bị coi là vi phạm hòa bình. Trên thực tế, tòa án đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá liệu một hành vi thu hồi có vi phạm nguyên tắc “peaceful repossession” hay không.
Từ kinh nghiệm pháp luật và thực tiễn của Mỹ, ông Sang khuyến nghị cần có hướng dẫn chi tiết về các biện pháp vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội trong quá trình thu giữ TSBĐ vào Luật các TCTD (sửa đổi) thông qua việc liệt kê những tiêu chí chung về hành vi không được làm khi tiến hành thu giữ TSBĐ, chẳng hạn như không được sử dụng bạo lực, đe dọa, xâm phạm quyền riêng tư hay gây mất trật tự công cộng,…
Song, dù có cụ thể hóa đến đâu, thì quyết định cuối cùng vẫn cần giao cho Tòa án đánh giá dựa trên hoàn cảnh, tính chất và mức độ của từng trường hợp cụ thể. Đây sẽ là giải pháp phù hợp để hạn chế việc lợi dụng sự mơ hồ trong khái niệm đạo đức nhằm biện minh hoặc phủ nhận các hành vi vi phạm trong quá trình thu giữ TSBĐ, ông Sang nhấn mạnh.
Bên cạnh quy định cấm sử dụng các biện pháp trái pháp luật hoặc vi phạm chuẩn mực đạo đức xã hội trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm, ông Sang cho rằng Quốc hội cần xem xét trao quyền cho Chính phủ hoặc NHNN ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết nhằm đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong thực thi quy định.
Theo ông, hướng dẫn cần làm rõ một số nội dung trọng yếu như: (1) nghĩa vụ thông báo trước khi tiến hành thu giữ tài sản; (2) thời hạn cụ thể để người vay có cơ hội phản hồi hoặc khiếu nại; (3) quy trình và phương pháp định giá tài sản đảm bảo; (4) các trường hợp thu giữ cần có sự chứng kiến hoặc giám sát từ cơ quan chức năng hoặc bên thứ ba độc lập; (5) cơ chế bảo vệ quyền lợi của bên vay trong các trường hợp đặc biệt, chẳng hạn như khi tài sản bảo đảm là nhà ở duy nhất hoặc là phương tiện tạo thu nhập chính của hộ gia đình; (6) trách nhiệm bồi thường của tổ chức tín dụng nếu thu giữ sai quy định, cũng như nghĩa vụ của bên vay hoặc người đang nắm giữ tài sản nếu cố tình cản trở quá trình thu giữ mà không có lý do hợp lý.
“Việc làm rõ các nội dung này là cần thiết để đảm bảo quá trình thu giữ tài sản diễn ra đúng pháp luật, có kiểm soát và giảm thiểu tối đa rủi ro xung đột giữa các bên liên quan”, ông Sang nhấn mạnh.







