Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển AI và hình thành ít nhất 10 thương hiệu AI Việt Nam.
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 1671/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Chiến lược đặt ra bước chuyển đáng chú ý trong cách tiếp cận trí tuệ nhân tạo (AI), từ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI sang nghiên cứu, phát triển AI gắn với chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng AI, hay “chuyển đổi AI quốc gia”.
Theo định hướng này, AI không chỉ được bổ sung vào các sản phẩm, dịch vụ hay quy trình sẵn có mà trở thành năng lực cốt lõi ngay từ khâu xác định bài toán, thiết kế, tổ chức đến vận hành.
AI được xác định là động lực quan trọng để tái thiết kế phương thức quản trị, sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ, qua đó thúc đẩy năng suất, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đổi mới sáng tạo, đồng thời hình thành những sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới.
Từ ứng dụng AI đến chuyển đổi toàn diện bằng AI
Trong cách tiếp cận mới, nhân lực, hạ tầng và dữ liệu được xác định là nền tảng, trong khi thể chế và quản trị AI đóng vai trò đột phá.
Đặc biệt, phát triển nguồn nhân lực được coi là yếu tố có tính quyết định đối với nghiên cứu, phát triển AI và quá trình chuyển đổi AI quốc gia.
Việt Nam sẽ tập trung xây dựng nguồn nhân lực AI chất lượng cao, nhân tài và nhân lực tinh hoa AI; đồng thời đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng kỹ năng AI cho lực lượng lao động, tiến tới phổ cập kỹ năng AI trong toàn xã hội.
Hoạt động đào tạo cũng được định hướng chuyển mạnh từ trang bị những kỹ năng công nghệ đơn lẻ sang xây dựng năng lực tạo ra sản phẩm, dịch vụ và giá trị thực tiễn bằng AI. Cùng với nguồn nhân lực trong nước, Việt Nam hướng tới thu hút và trọng dụng các chuyên gia AI hàng đầu, chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế.
Doanh nghiệp AI Việt Nam được xác định là lực lượng chủ lực trong nghiên cứu, phát triển, triển khai và chuyển đổi AI quốc gia.
Theo Chiến lược, doanh nghiệp được khuyến khích chuyển từ việc tích hợp thêm AI vào những sản phẩm, dịch vụ và quy trình hiện có sang thiết kế ngay từ đầu các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh và phương thức quản trị lấy AI làm nền tảng.
Định hướng này cũng nhằm thúc đẩy sự hình thành của các doanh nghiệp vận hành dựa trên AI (AI-native), đồng thời phát triển sản phẩm, nền tảng, dịch vụ và giải pháp AI “Make in Viet Nam”.
Tối thiểu 10 thương hiệu AI Việt Nam, 100% dịch vụ công trực tuyến được hỗ trợ bởi AI
Một loạt mục tiêu cụ thể được đặt ra cho giai đoạn đến năm 2030. Theo đó, Việt Nam hướng tới trở thành một trong những trung tâm có năng lực nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và đồng kiến tạo giá trị về AI tại ASEAN và châu Á; đồng thời hình thành năng lực quốc gia mạnh về nghiên cứu, phát triển, làm chủ, triển khai và quản trị AI.
Đáng chú ý, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển AI.
AI cũng sẽ được tích hợp sâu và toàn diện vào hoạt động quản trị quốc gia, cung cấp dịch vụ công, sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và đời sống xã hội. Qua đó, công nghệ này được kỳ vọng góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời tạo ra những sản phẩm, dịch vụ và mô hình tăng trưởng mới.
Trong khu vực công, mục tiêu đến năm 2030 là 100% dịch vụ công trực tuyến được tích hợp, hỗ trợ bởi AI và 100% hồ sơ thủ tục hành chính được hỗ trợ xử lý bằng AI.
Việt Nam cũng đặt mục tiêu phát triển tối thiểu 5 nền tảng AI dùng chung quốc gia; hình thành ít nhất 10 thương hiệu AI Việt Nam có năng lực cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế, cùng tối thiểu 8 mô hình AI tiếng Việt.
Tầm nhìn được mở rộng đáng kể đến năm 2045. Khi đó, Việt Nam đặt mục tiêu thuộc nhóm 10 quốc gia dẫn đầu châu Á về năng lực nghiên cứu, phát triển, làm chủ AI và chuyển đổi AI quốc gia.
AI được định hướng trở thành động lực chiến lược quan trọng để nâng cao năng suất, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng kiến tạo giá trị quốc gia, góp phần đưa Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình, trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.
Xa hơn việc ứng dụng công nghệ, đến thời điểm này, AI được kỳ vọng trở thành nền tảng vận hành chủ đạo của Nhà nước, nền kinh tế và xã hội. Các thể chế, mô hình quản trị, quy trình nghiệp vụ, sản phẩm, dịch vụ, phương thức sản xuất – kinh doanh và những hệ thống hạ tầng quan trọng từng bước được thiết kế, phát triển và vận hành trên nền tảng AI.
Việt Nam cũng hướng tới hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp AI và doanh nghiệp AI-native đủ sức cạnh tranh ở quy mô khu vực, quốc tế; trở thành một trung tâm quan trọng về nghiên cứu, phát triển, sản xuất và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ, giải pháp AI.
9 trụ cột tạo nền tảng cho chuyển đổi AI quốc gia
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Chiến lược xác định 9 trụ cột, bao phủ từ con người, dữ liệu, hạ tầng đến công nghệ, doanh nghiệp và quản trị.
Trụ cột đầu tiên là nhân lực AI và kỹ năng AI toàn dân, hướng tới phát triển nhân lực chất lượng cao, đồng thời phổ cập kỹ năng AI để lực lượng lao động có khả năng nghiên cứu, phát triển, triển khai và sử dụng công nghệ.
Hai trụ cột tiếp theo tập trung vào dữ liệu, mô hình AI và hạ tầng AI. Việt Nam sẽ phát triển dữ liệu, hạ tầng dữ liệu, mô hình AI cùng năng lực tính toán, điện toán đám mây, AI biên và các trung tâm dữ liệu AI phục vụ quản lý nhà nước, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và triển khai công nghệ.
Ở lĩnh vực nghiên cứu, Chiến lược đặt mục tiêu thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ AI, qua đó hình thành các sản phẩm, dịch vụ AI “Make in Viet Nam” và từng bước xây dựng năng lực công nghệ lõi phục vụ những bài toán lớn của đất nước.
AI đồng thời được đưa sâu hơn vào quản trị quốc gia nhằm xây dựng nền quản trị hiện đại, chủ động và thích ứng nhanh; nâng cao chất lượng dịch vụ công cũng như năng lực dự báo, chỉ đạo, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Ba trụ cột khác tập trung vào chuyển đổi AI trong các ngành, lĩnh vực; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, hợp tác xã tiếp cận AI; đồng thời phát triển hệ sinh thái AI Việt Nam có khả năng nghiên cứu, thương mại hóa và xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ, giải pháp công nghệ.
Trụ cột cuối cùng là quản trị AI an toàn, đáng tin cậy và có trách nhiệm, bảo đảm AI được phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng theo quy định pháp luật.
Song hành với 9 trụ cột, Chiến lược đưa ra 6 nhóm giải pháp đột phá. Trước hết là hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật, tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho phát triển và ứng dụng AI.
Trách nhiệm thực thi cũng được xác định cụ thể, trong đó người đứng đầu bộ, ngành và địa phương trực tiếp chỉ đạo, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng về kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ chuyển đổi AI được giao.
Về nguồn lực, Nhà nước bảo đảm kinh phí đối với các nhiệm vụ thuộc phạm vi đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu; đồng thời thúc đẩy hợp tác công – tư, thu hút các quỹ đầu tư quốc tế. Các cơ chế hỗ trợ lãi suất cho nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và quản lý AI cũng như ưu đãi thuế đối với hoạt động trí tuệ nhân tạo sẽ được nghiên cứu.
Bên cạnh đó là tăng cường hợp tác quốc tế, xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn; thúc đẩy trao đổi nghiên cứu sinh, kỹ sư và nhà khoa học với các trung tâm AI hàng đầu thế giới; nâng cao nhận thức và văn hóa sử dụng AI có trách nhiệm.
Việc triển khai Chiến lược sẽ gắn với hệ thống đo lường, giám sát và đánh giá. Các chỉ tiêu về mức độ chuyển đổi AI của từng bộ, ngành, địa phương và cả nước sẽ được xây dựng, định kỳ rà soát, cập nhật phù hợp với điều kiện thực tiễn và thông lệ quốc tế.
Theo Phương Nguyên/Kinh tế chứng khoán
Nguồn: https://kinhtechungkhoan.vn/viet-nam-dat-muc-tieu-vao-top-3-dong-nam-a-ve-nghien-cuu-va-phat-trien-ai







